BÀI ĐĂNG MỚI NHẤT
QUẢN LÝ THỦY SẢN
THIẾT BỊ TÀU CÁ
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KHAI THÁC THỦY SẢN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN THỦY SẢN
KINH TẾ THỦY SẢN
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Recent Posts
Kỹ thuật kinh doanh xuất nhập khẩu
Tài liệu "Kỹ thuật kinh doanh xuất nhập khẩu" do GS.TS. Võ Thanh Thu biên soạn, gồm 4 phần:
Phần 1: Những kiến thức cơ bản để thực hiện kinh doanh xuất nhập khẩu.
Phần 2: Thanh toán và tín dụng quốc tế.
Phần 3: Giao dịch và đàm phán ký kết hợp đồng ngoại thương.
Phần 4: Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu.
Xem tài liệu full dưới đây:
Danh mục một số loài thủy sản thường gặp ở Việt Nam
Danh mục một số loài thủy sản thường gặp ở Việt Nam do Hội Thủy sản Việt Nam biên soạn gồm có:
1) Danh mục một số loài cá biển thường gặp ở Việt Nam
2) Danh mục một số loài cá nước ngọt thường gặp ở Việt Nam
3) Danh mục một số loài giáp xác thường gặp ở Việt Nam
4) Danh mục một số loài động vật thân mềm thường gặp ở Việt Nam
Xem danh mục full dưới đây:
Ảnh hưởng của pha mặt trăng đến thành phần sản phẩm và sản lượng khai thác của nghề lưới vây sử dụng chà ở vùng biển Đông Nam Bộ, Việt Nam
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của pha mặt trăng đến thành phần loài, tần suất xuất hiện và sản lượng khai thác của nghề lưới vây sử dụng chà. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2024 tại vùng biển Đông Nam Bộ, Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ 02 chuyến biển và được phân tích theo 3 pha mặt trăng gồm trăng cuối tháng, trăng non và trăng đầu tháng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 07 loài cá nổi chính được khai thác, trong đó cá nục thuôn và cá ngừ chấm chiếm ưu thế về sản lượng. Tổng sản lượng khai thác thu được là 70.700 kg, năng suất khai thác trung bình cá nục thuôn cao nhất đạt 494,1 kg/mẻ, phần lớn chiều dài các loài cá (FL) khai thác được nằm trong khoảng thương phẩm dao động từ 20 ÷ 41 cm. Thành phần loài chiếm tỷ lệ cao nhất trong mỗi pha mặt trăng là: cá ngừ chấm (36% ở pha trăng cuối tháng và 30% ở pha trăng non) và cá nục thuôn (35% ở pha trăng đầu tháng). Cá ngừ chấm chiếm tỷ lệ xuất hiện cao nhất (100%) trong pha trăng cuối tháng và pha trăng non; cá nục thuôn chiếm tỷ lệ xuất hiện cao nhất (100%) trong pha trăng đầu tháng. Kết quả kiểm định Kruskal-Wallis cho thấy các pha mặt trăng không có ảnh hưởng đáng kể đến sản lượng khai thác bằng lưới vây.
Xem bài báo full dưới đây:
Abandoned, Lost or Otherwise Discarded Fishing Gear (ALDFG) and the Perceptions of Vietnamese Fishers
Abandoned, lost or otherwise discarded fishing gear (ALDFG) is a global challenge that negatively affects marine ecosystems and fishers’ livelihoods. Survey results from 1864 capture fishers in Vietnam show that the total mass of ALDFG is 82,720 kg/year, with an average loss rate of 0.24% of the total plastic used. The average ALDFG mass from gillnet fisheries is 26.0 ± 1.2 kg/vessel/year, trap fisheries 16.1 ± 2.6 kg/vessel/year, hook and line fisheries 13.8 ± 1.4 kg/vessel/year, trawl fisheries 8.8 ± 1.1 kg/vessel/year, stick-held falling net fisheries 5.1 ± 2.1 kg/vessel/year, and purse seine fisheries 4.2 ± 1.4 kg/vessel/year. Polyethylene (PE) accounts for 47.4%, polyamide (PA) 29.5% and polypropylene (PP) 17.2% of the total ALDFG mass.
Results from the selected partial proportional odds model show that fishers’ concern about ALDFG increases with education, fishing experience, vessel length, and stronger awareness of environmental and economic impacts, whereas age, days at sea, perceived navigation hazards, and perceived impacts on fish stocks are negatively associated with concern; perceived tourism impacts show a statistically significant threshold-varying effect across concern levels. These findings provide a scientific basis for developing sustainable fishing-gear management policies, aiming to reduce marine plastic pollution in Vietnam. These findings provide evidence for conservation-oriented fishing-gear management in Vietnam by identifying the gear types and fisher perceptions most relevant to reducing ghost fishing, marine plastic leakage, and risks to marine biodiversity and coastal ecosystems.
Đánh giá hiệu quả hoạt động của nghề lưới vây khơi ở khu vực Đông Nam Bộ
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp điều tra ngẫu nhiên chủ tàu và thuyển trưởng của tàu lưới vây khai thác hải sản tại vùng biển khơi Đông Nam Bộ trong năm 2024 nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất của đội tàu. Nghiên cứu đã tiến hành điều tra đặc điểm tàu thuyền, trang thiết bị, ngư trường, đối tượng khai thác, năng suất và hiệu quả kinh tế của 90 tàu lưới vây tại tỉnh Lâm Đồng, Tp Hồ Chí Minh và Đồng Tháp. Kết quả nghiên cứu cho thấy đội tàu lưới vây khơi chủ yếu là tàu vỏ gỗ, với chiều dài trung bình từ 21,6÷25,8 m, công suất máy chính từ 447÷928 CV, được trang bị khá đầy đủ các trang thiết bị phục vụ hàng hải và khai thác, cơ bản đáp ứng được yêu cầu trong quá trình sản xuất. Đội tàu hoạt động khai thác quanh năm với khoảng 250 ngày/năm, sản lượng trung bình đạt 219÷255 tấn/tàu/năm, lợi nhuận trung bình đạt từ 1,18÷1,20 tỷ đồng/tàu/ năm. Đối tượng khai thác chính là cá nổi, trong đó cá nục chiếm tỷ lệ cao nhất. Phân tích hồi quy đa biến đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận gồm: đầu tư thiết bị khai thác, kích thước ngư cụ, số lao động, đầu tư thiết bị hàng hải, công suất máy tàu và số ngày khai thác. Trong đó, các yếu tố chính cần đầu tư để nâng cao hiệu quả hoạt động nghề gồm: đầu tư thiết bị khai thác, công suất máy tàu và tăng số ngày khai thác. Các yếu tố cần xem xét giảm đầu tư nhằm tăng lợi nhuận cho đội tàu gồm: kích thước ngư cụ, số lao động và đầu tư thiết bị hàng hải.





