Bài mới nhất

Menu

BÀI ĐĂNG MỚI NHẤT

QUẢN LÝ THỦY SẢN

THIẾT BỊ TÀU CÁ

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KHAI THÁC THỦY SẢN

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN THỦY SẢN

KINH TẾ THỦY SẢN

Recent Posts

Ảnh hưởng của pha mặt trăng đến thành phần sản phẩm và sản lượng khai thác của nghề lưới vây sử dụng chà ở vùng biển Đông Nam Bộ, Việt Nam

9 tháng 7, 2026 / No Comments

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của pha mặt trăng đến thành phần loài, tần suất xuất hiện và sản lượng khai thác của nghề lưới vây sử dụng chà. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2024 tại vùng biển Đông Nam Bộ, Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ 02 chuyến biển và được phân tích theo 3 pha mặt trăng gồm trăng cuối tháng, trăng non và trăng đầu tháng.

Ảnh hưởng của pha mặt trăng đến thành phần sản phẩm và sản lượng khai thác của nghề lưới vây sử dụng chà ở vùng biển Đông Nam Bộ, Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 07 loài cá nổi chính được khai thác, trong đó cá nục thuôn và cá ngừ chấm chiếm ưu thế về sản lượng. Tổng sản lượng khai thác thu được là 70.700 kg, năng suất khai thác trung bình cá nục thuôn cao nhất đạt 494,1 kg/mẻ, phần lớn chiều dài các loài cá (FL) khai thác được nằm trong khoảng thương phẩm dao động từ 20 ÷ 41 cm. Thành phần loài chiếm tỷ lệ cao nhất trong mỗi pha mặt trăng là: cá ngừ chấm (36% ở pha trăng cuối tháng và 30% ở pha trăng non) và cá nục thuôn (35% ở pha trăng đầu tháng). Cá ngừ chấm chiếm tỷ lệ xuất hiện cao nhất (100%) trong pha trăng cuối tháng và pha trăng non; cá nục thuôn chiếm tỷ lệ xuất hiện cao nhất (100%) trong pha trăng đầu tháng. Kết quả kiểm định Kruskal-Wallis cho thấy các pha mặt trăng không có ảnh hưởng đáng kể đến sản lượng khai thác bằng lưới vây.

Xem bài báo full dưới đây:

Abandoned, Lost or Otherwise Discarded Fishing Gear (ALDFG) and the Perceptions of Vietnamese Fishers

/ No Comments

Abandoned, lost or otherwise discarded fishing gear (ALDFG) is a global challenge that negatively affects marine ecosystems and fishers’ livelihoods. Survey results from 1864 capture fishers in Vietnam show that the total mass of ALDFG is 82,720 kg/year, with an average loss rate of 0.24% of the total plastic used. The average ALDFG mass from gillnet fisheries is 26.0 ± 1.2 kg/vessel/year, trap fisheries 16.1 ± 2.6 kg/vessel/year, hook and line fisheries 13.8 ± 1.4 kg/vessel/year, trawl fisheries 8.8 ± 1.1 kg/vessel/year, stick-held falling net fisheries 5.1 ± 2.1 kg/vessel/year, and purse seine fisheries 4.2 ± 1.4 kg/vessel/year. Polyethylene (PE) accounts for 47.4%, polyamide (PA) 29.5% and polypropylene (PP) 17.2% of the total ALDFG mass. 

Abandoned, Lost or Otherwise Discarded Fishing Gear (ALDFG) and the Perceptions of Vietnamese Fishers

Results from the selected partial proportional odds model show that fishers’ concern about ALDFG increases with education, fishing experience, vessel length, and stronger awareness of environmental and economic impacts, whereas age, days at sea, perceived navigation hazards, and perceived impacts on fish stocks are negatively associated with concern; perceived tourism impacts show a statistically significant threshold-varying effect across concern levels. These findings provide a scientific basis for developing sustainable fishing-gear management policies, aiming to reduce marine plastic pollution in Vietnam. These findings provide evidence for conservation-oriented fishing-gear management in Vietnam by identifying the gear types and fisher perceptions most relevant to reducing ghost fishing, marine plastic leakage, and risks to marine biodiversity and coastal ecosystems.

Đánh giá hiệu quả hoạt động của nghề lưới vây khơi ở khu vực Đông Nam Bộ

3 tháng 1, 2026 / No Comments

 Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp điều tra ngẫu nhiên chủ tàu và thuyển trưởng của tàu lưới vây khai thác hải sản tại vùng biển khơi Đông Nam Bộ trong năm 2024 nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất của đội tàu. Nghiên cứu đã tiến hành điều tra đặc điểm tàu thuyền, trang thiết bị, ngư trường, đối tượng khai thác, năng suất và hiệu quả kinh tế của 90 tàu lưới vây tại tỉnh Lâm Đồng, Tp Hồ Chí Minh và Đồng Tháp. Kết quả nghiên cứu cho thấy đội tàu lưới vây khơi chủ yếu là tàu vỏ gỗ, với chiều dài trung bình từ 21,6÷25,8 m, công suất máy chính từ 447÷928 CV, được trang bị khá đầy đủ các trang thiết bị phục vụ hàng hải và khai thác, cơ bản đáp ứng được yêu cầu trong quá trình sản xuất. Đội tàu hoạt động khai thác quanh năm với khoảng 250 ngày/năm, sản lượng trung bình đạt 219÷255 tấn/tàu/năm, lợi nhuận trung bình đạt từ 1,18÷1,20 tỷ đồng/tàu/ năm. Đối tượng khai thác chính là cá nổi, trong đó cá nục chiếm tỷ lệ cao nhất. Phân tích hồi quy đa biến đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận gồm: đầu tư thiết bị khai thác, kích thước ngư cụ, số lao động, đầu tư thiết bị hàng hải, công suất máy tàu và số ngày khai thác. Trong đó, các yếu tố chính cần đầu tư để nâng cao hiệu quả hoạt động nghề gồm: đầu tư thiết bị khai thác, công suất máy tàu và tăng số ngày khai thác. Các yếu tố cần xem xét giảm đầu tư nhằm tăng lợi nhuận cho đội tàu gồm: kích thước ngư cụ, số lao động và đầu tư thiết bị hàng hải.


Xem bài báo full dưới đây:

Kỹ thuật lạnh cơ sở - PGS.TS Nguyễn Đức Lợi

2 tháng 1, 2026 / No Comments

Giáo trình Kĩ thuật lạnh được biên soạn thành 2 tập: Tập 1- Kĩ thuật lạnh cơ sở và tập 2 - Kĩ thuật lạnh ứng dụng.

Nội dung của tập 1 hạn chế trong khuôn khổ các kiến thức cơ bản về kĩ thuật lạnh như: Các phương pháp làm lạnh nhân tạo, môi chất lạnh, chất tải lạnh, vật liệu lạnh, các thiết bị và chu trình máy lạnh nén hơi, máy lạnh hấp thụ, máy lạnh ejectơ, máy lạnh nén khí, các thiết bị tự động và tự động hoá hệ thống lạnh.

Cuốn sách nhằm trang bị cho sinh viên ngành Nhiệt – Lạnh những kiến thức cơ bản cần thiết ứng dụng trong thực tế. Tuy nhiên sách cũng rất bổ ích cho các cán bộ, kĩ sư, công nhân các ngành liên quan đang sử dụng lạnh muốn đi sâu, tìm hiểu và tự bồi dưỡng về kĩ thuật lạnh. 

Kỹ thuật lạnh cơ sở - PGS.TS Nguyễn Đức Lợi

Xem tài liệu full dưới đây:

Introduction to tropical fish stock assessment Part 1: Manual

1 tháng 1, 2026 / No Comments

In Part 1, Manual, a selection of methods on fish stock assessment is described in detail, with examples of calculations. Special emphasis is placed on methods based on the analysis of length-frequencies. After a short introduction to statistics, it covers the estimation of growth parameters and mortality rates, virtual population methods, including age-based and length-based cohort analysis, gear selectivity, sampling, prediction models, including Beverton and Holt's yield per recruit model and Thompson and Bell's model, surplus production models, multispecies and multifleet problems, the assessment of migratory stocks, a discussion on stock/recruitment rela- tionships and demersal trawl surveys, including the swept-area method. The manual is completed with a review of stock assessment, where an indication is given of methods to be applied at different levels of availability of input data, a review of relevant computer programs produced by or in cooperation with FAO, and a list of references, including material for further reading.


Xem tài liệu full dưới đây:

Đánh giá hiện trạng khai thác và bảo quản mực lá đại dương (Thysanoteuthis rhombus) ở Việt Nam

28 tháng 10, 2025 / 1 Comment

Kết quả nghiên cứu đã xác định được tổng số tàu khai thác không chủ ý mực lá đại dương của 03 nghề lưới chụp, câu mực xà và câu cá ngừ đại dương là 3.697 chiếc; thông số cơ bản của ngư cụ như sau: chiều dài dây câu chính từ 120 - 160m, chiều dài thẻo câu từ 5 - 6m, số lưỡi câu từ 1 - 2 lưỡi/vàng, trên mỗi đường câu trang bị 01 đèn LED không dây màu xanh hoặc bảy màu; ngư trường thường bắt gặp mực lá đại dương từ 10 – 18 độ vĩ Bắc và từ 110 - 118 độ kinh Đông, đặc biệt là vùng quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường sa; mùa vụ khai thác mực lá đại dương đạt năng suất khai thác cao từ tháng 2 - 7 dương lịch, trong đó thời điểm cho năng suất cao nhất là từ tháng 3 - 5; năng suất khai thác trên tàu lưới chụp là 2,5 kg/ngày/tàu, câu cá ngừ đại dương là 2,3 kg/ngày/tàu và câu mực xà là 1,9 kg/ngày/tàu; doanh thu từ mực lá đại dương của nghề câu mực xà khoảng 30,24 tr.đ/tàu/năm, nghề câu cá ngừ khoảng 15,15 tr.đ/tàu/năm và nghề lưới chụp 12,61 tr.đ/tàu/năm; mực lá đại dương sau khi đưa lên tàu thường được sơ chế bằng cách cắt bỏ nội tạng (đối với mực >1 kg/con) hoặc để nguyên con (đối với mực <1 kg/con) sau đó cho vào túi nilon bọc kín hoặc phơi khô và bảo quan bằng nước đá; mực lá đại dương tiêu thụ trong nước và bước đầu đã xuất khẩu sang Trung Quốc (bằng đường tiểu ngạch) và Hàn Quốc.

Đánh giá hiện trạng khai thác và bảo quản mực lá đại dương (Thysanoteuthis rhombus) ở Việt Nam
Xem bài báo full dưới đây:

Kết quả bước đầu thăm dò khai thác mực lá đại dương (Thysanoteuthis rhombus) ở vùng khơi miền Trung, Việt Nam

26 tháng 1, 2025 / No Comments

Nghiên cứu thăm dò khai thác mực lá đại dương (Thysanoteuthis rhombus) ở vùng khơi miền Trung, Việt Nam nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác làm cơ sở đề xuất công nghệ khai thác phù hợp với điều kiện nghề cá Việt Nam giúp tăng năng suất khai thác, hiệu quả kinh tế. Nghiên cứu được thực hiện vào tháng 9 năm 2023 tại vùng biển có vĩ độ từ 14035’ N đến 17007’ N, kinh độ từ 109034’ E đến 111057’ E. Nghiên cứu sử dụng mẫu dây câu mực lá đại dương tổ chức 3 chuyến thăm dò và thu được 46 con mực lá đại dương. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tổng sản lượng mực lá đại dương thu được là 257,7 kg với năng suất khai thác trung bình đạt 2,78 kg/dây câu. Mực lá đại dương có chiều dài dao động từ 370 ÷ 710 mm và khối lượng dao động từ 1,5 ÷ 10,4 kg. Thành phần thức ăn của mực lá đại dương thuộc 2 nhóm, trong đó nhóm cá xương là thức ăn chiếm ưu thế; sản lượng khai thác mực lá đại dương cao độ sâu 150 m và 100 m với nhiệt độ nước biển dao động từ 15,5 ÷ 19,50C.

Kết quả bước đầu thăm dò khai thác mực lá đại dương (Thysanoteuthis rhombus) ở vùng khơi miền Trung, Việt Nam

Xem tài liệu full dưới đây: