Bài mới nhất

Menu

Browsing "Older Posts"

"Quản Lý Thủy Sản"

Danh mục một số loài thủy sản thường gặp ở Việt Nam

22 tháng 7, 2026 / No Comments

Danh mục một số loài thủy sản thường gặp ở Việt Nam do Hội Thủy sản Việt Nam biên soạn gồm có:

1) Danh mục một số loài cá biển thường gặp ở Việt Nam 

2) Danh mục một số loài cá nước ngọt thường gặp ở Việt Nam 

3) Danh mục một số loài giáp xác thường gặp ở Việt Nam 

4) Danh mục một số loài động vật thân mềm thường gặp ở Việt Nam 

Xem danh mục full dưới đây:

Introduction to tropical fish stock assessment Part 1: Manual

1 tháng 1, 2026 / No Comments

In Part 1, Manual, a selection of methods on fish stock assessment is described in detail, with examples of calculations. Special emphasis is placed on methods based on the analysis of length-frequencies. After a short introduction to statistics, it covers the estimation of growth parameters and mortality rates, virtual population methods, including age-based and length-based cohort analysis, gear selectivity, sampling, prediction models, including Beverton and Holt's yield per recruit model and Thompson and Bell's model, surplus production models, multispecies and multifleet problems, the assessment of migratory stocks, a discussion on stock/recruitment rela- tionships and demersal trawl surveys, including the swept-area method. The manual is completed with a review of stock assessment, where an indication is given of methods to be applied at different levels of availability of input data, a review of relevant computer programs produced by or in cooperation with FAO, and a list of references, including material for further reading.


Xem tài liệu full dưới đây:

Các loài hải sản tầng đáy thường gặp ở vùng biển từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế

26 tháng 1, 2025 / No Comments

Danh mục các loài hải sản tầng đáy thường gặp ở vùng biển từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế do Viện nghiên cứu Hải sản - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn biên soạn.

Các loài hải sản tầng đáy thường gặp ở vùng biển từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế
Xem tài liệu full dưới đây:

Xây dựng mô hình đồng quản lý nghề cá ven bờ ở xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

6 tháng 12, 2023 / No Comments

“Xây dựng mô hình đồng quản lý nghề cá ven bờ ở xã Ninh Ích, Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa” là công trình nghiên cứu của tác giả Lê Bảo Trung.

Xem tài liệu full dưới đây:

Khuyến nghị thực hiện đồng quản lý nguồn lợi thủy sản trong ngành Thủy sản Việt Nam

/ No Comments

Bảo vệ nguồn lợi thủy sản là công việc vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học biển và các vùng nước nội địa. Đồng thời, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản là công việc sống còn đối với sinh kế, nguồn sống của hàng triệu hộ gia đình ngư dân, với sự hiện diện trên biển của họ là bằng chứng khẳng định chủ quyền quốc gia, góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng biển đảo.

Tuy nhiên, với thực trạng quản lý, khai thác hiện nay, nguồn lợi ở biển Việt Nam đang suy kiệt nhanh. Quản lý nguồn lợi thủy sản chỉ dựa vào các nguồn lực nhà nước không thể thành công. Đổi mới phương thức quản lý trở thành yêu cầu bức thiết. Kinh nghiệm quốc tế trong quản lý tài nguyên, nguồn lợi thủy sản cần dựa vào cộng đồng, với phương thức đồng quản lý. Từ thế kỷ XVI, các Triều Vua Nguyễn đã thực hiện đấu thầu thuế tài nguyên nguồn lợi thủy sản, bằng việc giao các vùng nước ven biển cho cộng đồng ngư dân quản lý. Kết quả đạt được rất tích cực. Kế thừa các bài học của ông cha, vận dụng kinh nghiệm quốc tế, phương thức đồng quản lý nguồn lợi thủy sản đã được Chính phủ nghiên cứu, đề xuất Quốc Hội đưa vào Luật Thủy sản bổ sung, sửa đổi.

Đồng hành cùng cộng đồng ngư dân triển khai thực hiện Luật Thủy sản, UNDP/GEF SGP phát hành tài liệu “Những khuyến nghị thực hiện đồng quản lý nguồn lợi thủy sản trong ngành Thủy sản Việt Nam”. Nội dung tài liệu tập trung hỗ trợ cho cán bộ chính quyền các cấp, các bên liên quan, cộng đồng ngư dân nâng cao nhận thức về phương thức đồng quản lý và khuyến nghị xây dựng khung kế hoạch hành động thực hiện đồng quản lý nguồn lợi thủy sản theo quy định của Luật Thủy sản bổ sung, sửa đổi.

Khuyến nghị thực hiện đồng quản lý nguồn lợi thủy sản trong ngành Thủy sản Việt Nam
Xem tài liệu full dưới đây:

Mô hình đồng quản lý nguồn lợi sò lông - Kinh nghiệm thực tiễn từ xã Thuận Quý, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận

/ No Comments

Báo cáo điển hình tại Hội thảo quốc tế Giải pháp xanh hướng tới Kinh tế biển xanh "Mô hình đồng quản lý nguồn lợi sò lông - Kinh nghiệm thực tiễn từ xã Thuận Quý, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận" của Huỳnh Quang Huy - Hội nghề cá tỉnh Bình Thuận.

Mô hình đồng quản lý nguồn lợi sò lông - Kinh nghiệm thực tiễn từ xã Thuận Quý, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận
Xem tài liệu full dưới đây:

Đào tạo, tư vấn chuyên môn và chuyển giao công nghệ lĩnh vực nghề cá biển

5 tháng 9, 2022 / No Comments

Tan Pham Blog chuyên: Giảng dạy, nghiên cứu khoa học, tập huấn và tư vấn chuyên môn về công nghệ khai thác hải sản; Cơ giới hóa, hiện đại hóa đội tàu cá, trang thiết bị trên tàu cá; Đánh giá khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản; Kinh tế - xã hội và quản lý nghề cá.

* Lĩnh vực nhận tư vấn cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu:

- Thiết kế, cải tiến ngư cụ và vật liệu dùng trong nghề cá biển. 

- Cải tiến công nghệ khai thác, trang thiết bị phục vụ khai thác.

- Cơ giới hóa, hiện đại hóa đội tàu cá, trang thiết bị khai thác và hàng hải.

- Đánh giá kinh tế - xã hội, sinh học nghề cá.

- Đánh giá và quản lý nguồn lợi thủy sản.

- Xây dựng chương trình đào tạo, giáo trình, bài giảng, tài liệu tập huấn.

- Xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật, danh mục thiết bị đào tạo tối thiểu, chuẩn đầu ra.

* Lĩnh vực đào tạo, liên kết đào tạo cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu:

- Về khai thác thủy sản, thiết bị trên tàu và máy tàu cá:

+ Thuyền trưởng tàu cá hạng I, hạng II và hạng III.

+ Điều khiển tàu cá

+ Thuyền viên tàu cá

+ Thợ máy tàu cá

+ Khai thác hải sản (lưới rê, lưới vây, lưới kéo, lưới chụp, nghề câu…)

+ An toàn lao động trên tàu cá

+ Bảo quản và vệ sinh an toàn thực phẩm trên tàu cá

+ Lắp ráp và sửa chữa ngư cụ

+ Máy điện - vô tuyến điện hàng hải

+ Kỹ thuật khai thác thủy sản và bảo quản sản phẩm theo công nghệ mới đối với tàu có tổng công suất máy chính từ 400cv trở lên

+ Vận hành tàu cá vỏ thép, tàu vỏ vật liệu mới

+ Máy trưởng tàu cá hạng I, hạng II và hạng III

+ Vận hành, bảo trì máy tàu thủy

+ Khai thác máy tàu thủy

+ Điện tàu thủy

+ Sửa chữa máy tàu thủy

+ Cơ điện lạnh thủy sản

- Về nuôi trồng thủy sản

+ Nuôi tôm công nghệ cao

+ Nuôi tôm sú

+ Nuôi tôm thẻ chân trắng

+ Nuôi tôm he thương phẩm

+ Nuôi tôm thương phẩm

+ Nuôi cá tra, cá basa

+ Nuôi cá chẽm

+ Nuôi động vật thân mềm

+ Sản xuất giống một số loài cá nước ngọt

+ Sản xuất giống tôm he

+ Sản xuất giống tôm càng xanh

+ Sản xuất giống cá nước ngọt

+ Sản xuất giống và nuôi cá lóc

+ Sản xuất giống và nuôi cá tra, basa

+ Sản xuất giống và nuôi cá chẽm

+ Sản xuất giống và nuôi cá sặc rằn

+ Sản xuất giống và nuôi cá rô đồng

+ Sản xuất giống và nuôi cá rô phi dòng gift

+ Sản xuất giống và nuôi baba

+ Sản xuất giống tôm

- Về chế biến thủy sản

+ Chế biến tôm xuất khẩu

+ Chế biến cá tra, cá basa đông lạnh xuất khẩu

+ Chế biến nhuyễn thể hai mảnh vỏ đông lạnh xuất khẩu

+ Chế biến nước mắm

+ Chế biến hải sản khô

- Về kiểm ngư

Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ qua số điện thoại: 0945.433.089 (Mr.Tấn); Email: phamsitan51hh@gmail.com 


Đồng quản lý nghề cá - Sổ tay thực hành

6 tháng 1, 2019 / No Comments
Cuốn "Sổ tay đồng quản lý nghề cá" được hợp phần SCAFI thuê nhóm tư vấn dịch sang tiếng Việt để làm tài liệu tham khảo về Đồng quản lý nghề cá tại Việt Nam và hợp phần SUDA sẽ phối hợp với SCAFI để in cuốn sách này. 
Đồng quản lý nghề cá - Sổ tay thực hành
Cuốn sách gồm có 5 phần. Bao gồm:
Phần 1: Giới thiệu
Phần 2: Tiền thực hiện
Phần 3: Triển khai thực hiện
Phần 4: Sau triển khai thực hiện
Phần 5: Kết luận
Xem tài liệu full dưới đây:

Hiện trạng nghề khai thác cá ngừ ở Việt Nam

6 tháng 5, 2018 / No Comments
1. Tàu thuyền và cơ cấu tàu thuyền
Theo Tổng cục Thủy sản, tính đến năm 2015 cả nước có khoảng 4.189 chiếc tàu khai thác cá ngừ, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Trung (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa). Trong đó, nhóm tàu cá có công suất từ 50-89CV chiếm khoảng 4,54%; tàu cá từ 90-149CV chiếm 3,37%; tàu cá từ 150-249 CV chiếm 7,95%; tàu cá từ 250-399CV chiếm 30,32%; nhóm tàu cá trên 400V chiếm 53,83%. Nhìn chung, tổng số tàu khai thác cá ngừ có xu hướng tăng khoảng 12,43%/năm trong giai đoạn 2011-2015. Tuy nhiên, cơ cấu tàu cá có sự thay đổi theo chiều hướng giảm mạnh nhóm tàu cá có công suất nhỏ dưới 250CV và tăng mạnh nhóm tàu cá có công suất trên 250CV trở lên. Cụ thể: (1) Nhóm tàu cá có công suất từ 50-89CV giảm 33%/năm; (2) Nhóm tàu cá từ 90-149CV giảm 28,58%; (3) Nhóm tàu cá từ 150-249 giảm 11,95%; (4) Trong khi đó nhóm tàu cá có công suất từ 250-399 tăng khoảng 17,08%/năm; (5) Đặc biệt là tàu cá có công suất trên 400CV có mức tăng trưởng rất cao bình quân tăng 119,02%/năm, đây là mức tăng trưởng khá cao trong một thời gian gắn sẽ tạo ra một sức ép vô cùng lớn đến nguồn lợi cá ngừ cũng như hiệu quả kinh tế bình quân mỗi chuyến biển. Điều này cũng xảy ra như đối với nghề cá ngừ của tỉnh Bình Định, trong khi các loại tàu khác có xu hướng giảm thì loại tàu trên 400 CV tăng đột biến 123%/năm.
Hiện trạng nghề khai thác cá ngừ ở Việt Nam

Hình 1. Tàu câu cá ngừ tỉnh Bình Định

Bảng 1. Tổng số tàu khai thác cá ngừ của Việt Nam giai đoạn 2011-2015
                                                                                                    Đvt: Chiếc
Bảng 2. Cơ cấu tàu câu cá ngừ Việt Nam giai đoạn 2011-2015
                                                                                                        Đvt: Chiếc
Bảng 3. Cơ cấu tàu nghề rê cá ngừ của Việt Nam giai đoạn 2011-2015
                                                                                                        Đvt: Chiếc
Bảng 4. Cơ cấu tàu nghề vây cá ngừ của Việt Nam giai đoạn 2011-2015
                                                                                                        Đvt: Chiếc
2. Sản lượng và năng suất khai thác cá ngừ
Theo Tổng cục Thủy sản, tính đến năm 2015 cả nước khai thác khoảng 105.579 tấn cá ngừ các loại. Trong đó, cá ngừ đại dương khoảng 49,148 tấn cá ngừ đại dương các loại chiếm 46,54% tổng sản lượng cá ngừ ở Việt Nam. Trong đó riêng cá ngừ đại dương Bình Định chiếm 38,39% (tương đương 18.870 tấn); Phú Yên chiếm 14,88% (tương đương 7.313 tấn); Khánh Hòa chiếm 46,73% (tương đương 22.965 tấn). Trong giai đoạn 2011-2015 thể hiện xu hướng tăng, khoảng 12,39%/năm, tuy nhiên tăng trưởng giữa các địa phương là khác nhau. Cụ thể, Bình Định tăng trưởng 12,8%/năm; Phú Yên tăng trưởng 8,04%/năm; Khánh Hòa tăng trưởng 13,61%/năm.
Bảng 5. Sản lượng khai thác cá ngừ đại dương ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015
                                                                                                        Đvt: Tấn
Bảng 6. Sản lượng khai thác cá ngừ đại dương phân theo địa phương 2011-2015
                                                                                                     Đvt: Tấn
Bảng 7. Sản lượng nghề câu cá ngừ đại dương ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015
                                                                                                              Đvt: Tấn
Bảng 8. Sản lượng nghề rê cá ngừ đại dương ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015
                                                                                                     Đvt: Tấn
Bảng 9. Sản lượng nghề vây cá ngừ đại dương ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015
                                                                                                       Đvt: Tấn
Nhìn chung năng suất nghề câu và nghề vây ở Việt Nam có xu hướng giảm mạnh, đặc biệt là nghề câu năng suất bình quân giai đoạn 2011-2015 giảm khoảng 7,08%/năm; năng suất nghề vây giảm 2,64%/năm. Ngược lại, năng suất nghề rê (cá ngừ sọc dưa) lại có xu hướng tăng, khoảng 16,26%/năm, dẫn đến tăng năng suất toàn ngành cá ngừ lên khoảng 1,36%. Ngược lại với các toàn quốc, riêng tỉnh Bình Định năng suất nghề câu tăng trưởng 2,91%/năm, trong khi đó nghề rê giảm rất lớn 71,36%/năm.
Bảng 10. Năng suất khai thác cá ngừ ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015
Đvt: Tấn/tàu/năm
3. Về chế biến và xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam
1) Về chế biến cá ngừ đại dương: Hiện nay hầu hết các nhà máy chế biến cá ngừ đại dương đều được cấp chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng HACCP và được cấp Code xuất khẩu thị trường Châu Âu. Hầu hết các nhà máy chế biến cá ngừ đều sử dụng thiết bị cấp đông tiếp xúc (CF), đông gió và hầm đông lạnh, đông rời (IQF) đang được các nhà máy chế biến cá ngừ sử dụng để cấp đông sản phẩm. Thiết bị cấp đông tiếp xúc (CF) chủ yếu cấp đông các sản phẩm cá ngừ block như thăn cá ngừ vằn hấp  chín, một số nhà máy chưa trang bị thiết bị cấp đông rời (IQF) sử dụng thiết bị này để đông các loại sản phẩm Steaks, Saku, Cube; thiết bị đông gió chủ yếu cấp đông các sản phẩm cá ngừ nguyên con và bỏ đầu; một số nhà máy có trang bị hầm đông lạnh, đông rời (IQF) cấp đông sản phẩm Steaks, Saku, Cube; hiện có nhà máy đã trang bị thiết bị cấp đông sâu (- 60°C) cấp đông các sản phẩm có chất lượng cao và có hàm lượng giá trị gia  tăng cao.
Đối với các nhà máy chế biến đồ hộp đều trang bị thiết bị hấp và nồi hơi, thiết bị ghép mí và thiết bị thanh trùng đảm bảo chế biến các sản phẩm đồ hộp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trưởng EU, Mỹ, Nhật...Một số nhà máy đã tự trang bị thiết bị và sản xuất hộp và bao bì đóng hộp.
Quy trình chế biến cá ngừ đông lạnh: cá ngừ nguyên con bỏ nội tạng đông lạnh; cắt đầu bỏ nội tạng đông lạnh; fillet (loin) còn da, bỏ xương hoặc bỏ da, bỏ xương  đông lạnh, gồm 02 dạng có hoặc không xông CO: cá ngừ cắt lát còn da (steaks skin on) hoặc không da (steaks skin less) đông lạnh, gồm 02 dạng có hoặc không xông CO; cá ngừ cắt miếng (saku; cube) đông lạnh, gồm 02 dạng có hoặc không xông CO; Thăn cá ngừ hấp đông lạnh.
2) Về xuất khẩu cá ngừ: Theo VASEP, năm 2015 tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu cá ngừ đạt 454,97 triệu USD, tăng gấp 1,55 lần so với năm 2010, bình quân tăng trưởng 9,19%/năm. Trong đó, cá ngừ mã HS16 chiếm 45,9% tổng giá trị xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam và đạt mức tăng trưởng bình quân cao nhất 12,18%/năm; và nhóm sản phẩm cá ngừ có mã HS03 chiếm 54,1%, đạt mức tăng trưởng bình quân khoảng 6,99%/năm.
Bảng 11. Hiện trạng xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam giai đoạn 2010-2015
Đvt: Triệu USD
Theo VASEP, hiện các sản phẩm cá ngừ của Việt Nam đã có mặt ở 96 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, 10 thị trường xuất khẩu cá ngừ lớn nhất của Việt Nam trong những năm qua bao gồm: Mỹ, Nhật Bản, Đức, Italia, Tây Ban Nha, Israel, Canada, Tunisia, Thái Lan và Mexico. Cụ thể, thị trường Mỹ chiếm khoảng 41,8% (tương đương 190,16 triệu USD); thị trường EU chiếm 21,4% (tương đương 97,37 triệu USD); thị trường ASEAN chiếm 8,43% (tương đương 38,36 triệu USD); thị trường Nhật Bản chiếm 4,49% (tương đương 20,42 triệu USD); thị trường Canada chiếm 2,18% (tương đương 9,9 triệu USD); thị trường Mexico chiếm 2,04% (tương đương 9,3 triệu USD); và các thị trường khác chiếm 19,66% (tương đương 89,46 triệu USD). Nhìn chung trong giai đoạn 2010-2015 hầu hết các thị trường nhập khẩu cá ngừ của Việt Nam đều có mức tăng trưởng dương từ, trong đó tăng mạnh nhất phải nói đến thị trường Mexico đạt 42,37%/năm và thấp nhất là thị trường Mỹ đạt 7,09%, chỉ duy nhất có thị trường Nhật Bản có mức tăng trưởng âm 2,95%/năm. Bình quân xuất khẩu toàn ngành cá ngừ tăng trưởng 9,19%/năm. Đây là một tín hiệu rất tốt để ngành cá ngừ của Việt Nam tăng trưởng mạnh trong thời gian tới.
Bảng 12. Cơ cấu thị trường xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam giai đoạn 2010-2015
Đvt: Triệu USD
4. Về lao động trong khai thác cá ngừ
Theo Chi cục thủy sản các địa phương, hiện nay tổng số lao động khai thác cá ngừ tại Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa khoảng trên 35.000 người, giao động khoảng 5 - 6 người/tàu đối với nghề câu tay, khoảng 9 - 10 người/tàu đối với tàu câu vàng, tàu lưới rê, 14 - 16 người/tàu lưới vây, trong đó 100% là nam giới trong độ tuổi từ 30-50 tuổi. Trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất là lao động có độ tuổi từ 40-50 tuổi chiếm khoảng 64% trong tổng số. Đa phần lao động chưa qua đào tạo, 83% ngư dân trình độ học vấn cấp II, còn lại là cấp I. Trên tàu, thuyền trưởng là người có kinh nghiệm quản lý, điều hành khai thác và bảo quản sản phẩm, được đào tạo và cấp chứng chỉ thuyền trưởng, máy trưởng. Đối với thuyền viên, kiến thức và hiểu biết chủ yếu tích lũy trong sản xuất không nhiều. Do thu nhập từ nghề khai thác cá ngừ thời gian qua suy giảm, ngư trường cách xa tăng chi phí đầu vào nên thu nhập của lao động thấp khiến nhiều người chuyển nghề gây lên tình trạng thiếu lao động trầm trọng tại các địa phương. Nhiều lao động được chủ tàu tuyển chưa một lần ra biển, nhưng do thiếu lao động vẫn phải sử dụng, trong quá trình khai thác vừa làm vừa học vì vậy ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả khai thác mỗi chuyển biển, tình hình này tiếp tục còn xảy ra mạng trong thời gian tới.
5. Về công nghệ khai thác và bảo quản sản phẩm
   1) Về công nghê khai thác: Nhìn chung công nghệ khai thác cá ngừ vẫn còn lạc hậu so với thế giới và tỏng khu vực. Cụ thể: (1) Đối với nghề lưới vây, phương thức khai thác có 02 loại vây ngày và vây đêm kết hợp phương pháp dẫn dụ bằng ánh sáng. Hầu hết đều không sử dụng chà, chủ yếu khai thác theo kinh nghiệm. Tất cả các tàu lưới vây đều trang bị tời kéo lưới, thiết bị định vị; hiện nhiều tàu đã trang bị thiết bị tầm ngư, khoảng trên 50% tàu có trang bị máy thu lưới; (2) Đối với nghề lưới rê, kết cấu vàng lưới tùy thuộc vào công suất tàu và ngư trường. Thao tác và kỹ thuật thả lưới bằng thủ công, công đoạn thu lưới được trang bị máy thu lưới truyền động bằng thủy lực. Thời gian thả, ngâm, thu lưới tùy thuộc vào chiều dài vàng lưới, tập quán sản xuất của từng địa phươngvà tốc độ thả thu lưới và chiều dài vàng lưới; Đối với nghề câu cá ngừ, có 02 loại (câu vàng và câu tay kết hợp với ánh sáng). Hầu hết các tàu đều được trang bị máy thu dây câu chính, máy định vị vệ tinh, la bàn, thông tin liên lạc... Cụ thể (i) Đối với nghề câu vàng, kết cấu, kích thước vàng câu phụ thuộc vào quy mô tàu thuyền và trang thiết bị kỹ thuật cho nghề (chiều dài vàng câu từ 40 - 60km, với số dây câu và lưỡi câu khoảng từ 700 - 1.000 lưỡi); sử dụng là lưỡi câu J hoặc lưỡi câu vòng; thời gian thả, ngâm và thu  câu  tùy thuộc số lượng  lưỡi câu thả của mỗi tàu; (ii) Đối với nghề câu tay, xuất hiện từ cuối năm 2011 đến nay, tàu được trang bị máy phát điện, đèn cao áp, cần, dây câu, mỗi tàu với 4 - 6 cần câu. Thời gian chuyến biển được rút ngắn bằng khoảng 2/3 thời gian so với câu vàng. Nghề câu tay đạt sản lượng khai thác khá cao. Tuy nhiên, chất lượng cá ngừ câu tay thấp, tỷ lệ cá ngừ câu tay đạt tiêu chuẩn sashimi chỉ đạt 5 - 6 % lô sản phẩm khai thác được. Nhưng do giảm chi phí di chuyển thu thả câu, giảm chi phí mồi và thời gian chuyến biển nên hiệu quả của nghề này thường cao hơn nhiều so với nghề câu vàng truyền thống.
2) Về công nghệ bảo quản sản phẩm: Đa số hầm bảo quản sản phẩm sử dụng vật liệu với chất liệu là xốp ghép (styrofor), một số tàu còn sử dụng bạt và những tấm xốp rời lót trong hầm nên khả năng giữ lạnh thấp, mức tiêu hao đá lớn, chất lượng sản phẩm giảm nhanh, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Một số tàu đã tiến hành lắp đặt hầm bảo quản bằng công nghệ xốp thổi (Polyurethane), đảm bảo chất lượng, kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm, xong chưa nhiều. Bên cạnh việc bảo quản bằng nước đá trong hầm lạnh truyền thống một số ít tàu đã đưa vào thử nghiệm bảo quản bằng đá lỏng, hầm lạnh lắp thiết bị làm lạnh,… nhưng chưa thực sự hiệu quả. Thời gian xử lý, sơ chế, phân loại và rửa cá kéo dài. Hầu hết tàu câu cá ngừ không thực hiện công đoạn ngâm hạ nhiệt, nhiều tàu không thực hiện đúng các yêu cầu  kỹ thuật trong xử lý, sơ chế, bảo quản cá ngừ, nước đá chất lượng không đạt,  cùng với thời gian bảo quản kéo dài 18- 20 ngày, nên cá không đạt yêu cầu chất lượng ăn tươi (sashimi). Đối với tàu lưới vây, phương pháp bảo quản bằng khay nhựa hoặc cách muối trực tiếp lớp đá, lớp cá dưới hầm bảo quản; các lớp đá dưới đáy, xung quanh và giữa các lớp cá, trong quá trình bảo quản khó bổ sung tần suất bổ sung, chỉ thực hiện đối lớp bề mặt, nên có thể nhiệt độ bảo quản không đáp ứng yêu cầu. Thời gian bảo quản cá trên tàu dài từ 2 - 3 tuần, nhiều tàu thời gian bảo quản cá trên tàu trên 4 tuần, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cá ngừ sau thu hoạch.
6. Về dịch vụ hậu cần nghề cá ngừ
1) Về cảng cá bến cá: Hệ thống dịch vụ hậu cần cảng cá, bến cá chất lượng rất kém, không đáp ứng yêu cầu, chưa có chợ cá nào được xây dựng. Hiện nay, chưa có sự đầu tư thích đáng cơ sở hạ tầng, chưa có biện pháp tổ chức quản lý tập trung đối với hoạt động dịch vụ hậu cần ở cảng cá, bến cá. Cơ sở hạ tầng một số cảng, bến cá xuống cấp nghiêm trọng, luồng lạch bị bồi lắng nhưng không được duy tu, bảo dưỡng; hệ thống trang thiết bị không đảm bảo an toàn hàng hải; cầu cảng bị tận dụng làm nơi tiếp nhận, phân loại, giao dịch; cầu cảng không có mái che, xa khu tiếp nhận; một số cảng không đầu tư hạng mục dịch vụ hậu cần, các cơ sở thu mua không đảm bảo điều kiện ATVSTP và vệ sinh môi trường; nhiều cơ sở thu mua cá ngừ tự lập bến, cầu cập tàu và nhà xưởng ngoài khu vực cảng cá, bến cá.
2) Về cơ khí đóng sửa tàu thuyền: Hiện nay, các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa có 34 cơ sở đóng sửa tàu cá vỏ gỗ, 03 cơ sở đóng sửa tàu vỏ thép; 5 cơ sở đóng sửa tàu composite với khả năng đóng mới 700 chiếc/năm và sửa chữa khoảng hơn 12 nghìn chiếc/ năm. Các cơ sở đóng, sửa tàu cá ở các địa phương chưa được quy hoạch, còn manh mún, chưa phân cấp quản lý, quy mô nhỏ, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và yếu, năng lực quản lý nhiều hạn chế, tay nghề chưa được đào tạo, chủ yếu đóng tàu nhỏ vỏ gỗ theo mẫu và kinh nghiệm dân gian. Hầu hết đều chưa đảm bảo yêu cầu kỹ thuật đóng sửa tàu cá.
3) Về sản xuất kinh doanh nước đá: Theo số liệu báo cáo của các tỉnh, số cơ sở sản xuất nước đá phục vụ cho khai thác thủy sản như sau: Bình Định có 125 cơ sở, tổng công suất 1.125 tấn/ ngày; Phú Yên có 87 cơ sở, tổng công suất 783 tấn/ ngày; Khánh Hòa có 57 cơ sở, tổng công suất 1.455 tấn/ ngày. Vào mùa vụ, lượng nước đá không đảm bảo cung ứng; một số nơi ở các tỉnh Bình Định và Phú Yên, chất lượng nước đá không đảm bảo.

Bài giảng Quy hoạch và Chính sách nghề cá - TS. Trần Đức Phú

31 tháng 12, 2017 / No Comments
Bài giảng Quy hoạch và Chính sách nghề cá  do TS. Trần Đức Phú - Đại học Nha Trang biên soạn dành cho sinh viên chuyên ngành Quản lý Thủy sản.

Bài giảng Quy hoạch và Chinh sách nghề cá - TS. Trần Đức Phú
Bài giảng gồm có 04 chương gồm:
Chương 1: Khái niệm chung.
Chương 2: Công tác quản lý khai thác thủy sản.
Chương 3: Một số chính sách nghề cá Việt Nam.
Chương 4: Mô hình lập kế hoạch nghề cá.
Xem Bài giảng full dưới đây:

Bách khoa thủy sản

30 tháng 12, 2017 / No Comments
Bách khoa Thủy sản do Trung ương Hội Nghề cá Việt Nam chủ trì, biên soạn, NXB Nông nghiệp xuất bản năm 2007. Đây cũng là cuốn bách khoa đầu tiên tổng quan về lĩnh vực thủy sản. Sách gồm 600 trang khổ 20,5 x 29cm, tập trung và 6 nhóm nội dung cơ bản: Môi trường, Nguồn lợi thủy sản, Khai thác, Nuôi trồng, Bảo quản và chế biến, Kinh tế xã hội nghề cá. 

Bách khoa thủy sản

Bách khoa thủy sản do nhiều nhà khoa học trong và ngoài ngành, nhiều nhà quản lý và chuyên gia lâu năm trong ngành thủy sản biên soạn. Sách được biên soạn theo từng vấn đề thuộc nội dung của các lĩnh vực liên quan đến hoạt động của ngành thủy sản: Môi trường, Nguồn lợi, Khai thác, Nuôi trồng, Bảo quản, Chế biến và nhiều vấn đề Kinh tế xã hội nghề cá. Bố cục sách thuận tiện cho việc nghiên cứu. Sách đáp ứng được phần nào nhu cầu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập, tổ chức sản xuất, quản lý nhà nước về thủy sản của đông đảo bạn đọc và của những người quan tâm đến sự phát triển ngành thủy sản Việt Nam.
Ban biên tập cuốn Bách khoa thủy sản gồm:
– TS. NGUYỄN VIỆT THẮNG (Trưởng ban)
– TS. NGUYỄN THỊ HỒNG MINH (Phó trưởng ban)
– KS. NGUYỄN TRỌNG BÌNH (Ủy viên thư ký)
– PGS.TS. NGUYỄN XUÂN LÝ (Ủy viên)
– PGS.TS ĐỖ VĂN KHƯƠNG (Ủy viên)
Xem tài liệu full dưới đây:

Luật Thủy sản 2017

27 tháng 12, 2017 / No Comments
Ngày 05/12/2017 Chủ tịch Nước đã ký Lệnh số 16/2017/L-CTN về việc công bố Luật Thủy sản đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 21/11/2017. Luật Thủy sản năm 2017 gồm 9 chương và 105 điều, được xây dựng trên tinh thần kế thừa những nội dung, quy định đã khẳng định tính phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn trong Luật Thủy sản 2003. Các nội dung sửa đổi, bổ sung đáp ứng được các yêu cầu thực tiễn, sự phát triển của ngành thủy sản, đồng thời phân định rõ chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành có liên quan đến lĩnh vực thủy sản và phân cấp triệt để cho địa phương trong việc cấp phép, chứng nhận đối với các hoạt động về thủy sản.
Luật Thủy sản 2017

So với Luật Thủy sản 2003, Luật Thủy sản 2017 giảm 1 chương và tăng 43 điều. Về cơ bản, Luật mới giữ nguyên tên chương của Luật Thủy sản 2003, trong đó có một số thay đổi về kết cấu như bổ sung 1 chương (Kiểm ngư) nhằm thiết lập cơ sở pháp lý cao nhất cho tổ chức và hoạt động của Kiểm ngư Việt Nam. Bỏ 2 chương về hợp tác quốc tế về hoạt động thủy sản và Khen thưởng và xử lý vi phạm. Các nội dung về hợp tác quốc tế, nội dung hợp tác về khai thác thủy sản tại nước ngoài, tàu cá nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam, nhập khẩu tàu cá đã được thể hiện trong Chương Khai thác thủy sản. Quy định về khen thưởng và xử lý vi phạm hiện đã được quy định và thực hiện theo Luật Thi đua khen thưởng, Luật giải quyết Khiếu nại, tố cáo, Luật Thanh tra và Luật Xử lý vi phạm hành chính nên không quy định lại ở Luật này.
Luật có các nội dung mới như: Quy định về đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản (Điều 10); Quy hoạch về bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản, điều tra đánh giá nguồn lợi thủy sản (Điều 11 và 12); Quy định về Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản (Điều 21) và khuyến khích thành lập Quỹ cộng đồng (Điều 22). Về Nuôi trồng thủy sản, từ Điều 23 đến Điều 47, chương III, quy định cụ thể về việc quản lý giống thủy sản, thức ăn và sản phẩm xử lý môi trường trong nuôi trồng thủy sản theo hướng quản lý hệ thống, kiểm soát đầu vào từ điều kiện cơ sở và chứng nhận đủ điều kiện trước khi hoạt động. Tại Chương IV về Khai thác thủy sản, hạn ngạch cấp phép khai thác thủy sản trên biển được quy định cụ thể tại Điều 49; công tác quản lý tàu cá, cảng cá và khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá được quy định chi tiết từ Điều 62 đến Điều 85.
Luật Thủy sản 2017 cũng đã nội luật hóa các nội dung liên quan đến chống đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (IUU fishing) trong đó có khuyến nghị của Ủy ban Châu Âu (EC). Các nội dung liên quan đến 9 khuyến nghị của EC được quy định rải rác trong các Điều và các chương của Luật. Một số nội dung cơ bản đã được thê hiện trong Luật Thủy sản 2017: Bổ sung các thuật ngữ nhất quán với Công ước Luật biển 1982, Hiệp định đàn cá di cư của Liên Hợp quốc, Hiệp định biện pháp quốc gia có cảng của FAO; Quy định về quản lý khai thác thủy sản theo hạn ngạch; Quy định tàu cá hoạt động từ vùng khơi trở ra phải cập cảng có đủ điều kiện xác nhận nguồn gốc từ khai thác; Quy định nghĩa vụ của tổ chức quản lý cảng cá; Quy định quản lý đối với sản phẩm thủy sản có nguồn gốc từ khai thác bất hợp pháp; Quy định việc xử lý đối với hành vi sử dụng tàu cá không quốc tịch hoặc mang quốc tịch của quốc gia không phải là thành viên; Quy định việc xử lý đối với hành vi sử dụng tàu cá để khai thác thủy sản không theo quy định về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong vùng biển quốc tế không thuộc thẩm quyền quản lý của tổ chức quản lý nghề cá khu vực. Quy định các hành vi khai thác IUU và chế tài nghiêm khắc với chủ tàu, thuyền trưởng vi phạm; sửa đổi mức trần phạt tiền đối với lĩnh vực thủy sản trong Luật xử lý vi phạm hành chính: “mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quản lý nhà nước về thủy sản đối với cá nhân là 1.000.000.000 đồng”.   
Luật Thủy sản có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019.

Link xem và tải Luật Thủy sản 2017 tại đây.